Cao vỏ cây liễu trắng có công dụng giảm đau lưng theo nghiên cứu khoa học - Spinex

Theo nhiều nghiên cứu khoa học, cao vỏ cây liễu trắng - thành phần trong thực phẩm bảo vệ sức khỏe Spinex - có công dụng giảm đau lưng. Cao vỏ cây liễu trắng (hay còn gọi là Salix Alba hay Willow bark) ngoài ra còn nhiều công dụng khác rất hữu ích.


Tổng quan về cao vỏ cây liễu trắng - thành phần trong Spinex


Ghi chú: Cao là chế phẩm được chế bằng cách cô hoặc sấy đến thể chất quy định các dịch chiết thu được từ dược liệu trong dung môi thích hợp.


Cao lỏng: Là chất lỏng hơi sánh, có mùi vị đặc trưng của dược liệu sử dụng, trong đó cồn và nước đóng vai trò dung môi chính (hay chất bảo quản hay cả hai). Nếu không có chi dẫn khác, quy ước 1 ml cao lỏng tương ứng với 1g dược liệu dùng để điều chế cao thuốc. Cao đặc: Là khối đặc quánh. Hàm lượng dung môi sử dụng còn lại trong cao không quá 20 %. Cao khô: Là khối hoặc bột khô, đồng nhất nhưng rất dễ hút ẩm. Cao khô không được có độ ẩm lớn hơn 5 %. Cao vỏ cây liễu trắng là cao khô.


Vỏ cây liễu trắng có nhiều tên:


Basket Willow, Bay Willow, Black Willow, Black Willow Extract, Brittle Willow, Corteza de Sauce, Crack Willow, Daphne Willow, Écorce de Saule, Écorce de Saule Blanc, European Willow, European Willow Bark, Extrait d’Écorce de Saule, Extrait d’Écorce de Saule Blanc, Extrait de Saule, Extrait de Saule Blanc, Knackweide, Laurel Willow, Lorbeerweide, Organic Willow, Osier Blanc, Osier Rouge, Purple Osier, Purple Osier Willow, Purple Willow, Purpurweide, Pussy Willow, Reifweide, Salicis Cortex, Salix alba, Salix daphnoides, Salix fragilis, Salix nigra, Salix pentandra, Salix purpurea, Saule, Saule Argenté, Saule Blanc, Saule Commun, Saule des Viviers, Saule Discolore, Saule Fragile, Saule Noir, Saule Pourpre, Silberweide, Violet Willow, Weidenrinde, White Willow, White Willow Bark, Willowbark, White Willow Extract, Willow Bark Extract


Theo trang web y khoa rất uy tín là: https://www.webmd.com/vitamins/ai/ingredientmono-955/willow-bark


Cách sử dụng cao vỏ cây liễu trắng


Công dụng giảm đau lưng là công dụng chính và được chứng minh qua nhiều các nghiên cứu khoa học.


Các công dụng khác như: Viên xương khớp (Osteoarthritis), viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis - RA), đau khớp, hạ sốt, đẹp da thì cần thêm bằng chứng khoa học nữa.


Cơ chế tác dụng của cao vỏ cây liễu trắng - thành phần trong Spinex


  • Chiết xuất Ethanolic từ vỏ cây liễu trắng làm ức chế cyclooxygenase (COX)-2 gián tiếp bằng cách phóng thích prostaglandin và ức chế enzyme và các chất chống oxy hóa (antioxidant)và những phản ứng này giúp người uống giảm đau do các bệnh viêm nhiễm khớp

  • Còn có tác dụng giảm ngưng tập tiểu cầu, tốt cho bệnh nhân nguy cơ bị tắc mạch hoặc sau đột quỵ, nhưng tác dụng này không mạnh như Aspirin

  • Ngoài ra còn có tác dụng chống bệnh gây ra co các loại virus influenza gây đau mỏi cơ, đau khớp do viêm, hay do các bệnh lý mô liên kết

  • Nghiên cứu cũng chứng minh dùng vỏ cây liễu trắng với liều 240 mg Salicin trong 3 tuần giúp thuyên giảm các bệnh thoái hóa khớp gối và khớp hang (Theo nghiên cứu của Journal of Material Sciences & Engineering)


Tác dụng phụ và độ an toàn khi sử dụng:


Vỏ cây liễu là AN TOÀN cho hầu hết mọi người bằng đường uống trong một thời gian ngắn (tối đa 12 tuần).

Nó có thể gây khó chịu cho dạ dày và rối loạn hệ tiêu hóa.

Nó cũng có thể gây ngứa, phát ban và phản ứng dị ứng, đặc biệt ở những người dị ứng với aspirin.


Phòng ngừa & Cảnh báo đặc biệt: Phụ nữ mang thai và cho con bú: Không đủ thông tin về sự an toàn của việc sử dụng vỏ cây liễu trắng trong khi mang thai. Đối với phụ nữ đang cho con bú chưa có nghiên cứu về sự an toàn nên không nên dùng. Vỏ cây liễu có chứa hóa chất có thể xâm nhập vào sữa mẹ và có tác dụng gây hại cho trẻ bú mẹ. Đối với trẻ em: Không dùng khi trẻ đang bị nhiễm virus như cảm lạnh và cúm. Có một số lo ngại rằng, giống như aspirin, nó có thể làm tăng nguy cơ phát triển hội chứng Reye.


Rối loạn chảy máu: Vỏ cây liễu có thể làm tăng nguy cơ chảy máu ở những người bị rối loạn chảy máu.


Bệnh thận: Vỏ cây liễu có thể làm giảm lưu lượng máu qua thận, dẫn đến suy thận ở một số người. Nếu bạn bị bệnh thận, không nên sử dụng vỏ cây liễu trắng.


Nhạy cảm với aspirin: Những người mắc bệnh hen phế quản, (ASTHMA), loét bao tử (STOMACH ULCERS), tiểu đường (DIABETES), GOUT, chảy máu di truyền (HEMOPHILIA), HYPOPROTHROMBINEMIA hoặc các bệnh thận, bệnh gan nếu có thể nhạy cảm với aspirin thì cũng có thể nhạy cảm với vỏ cây liễu. Do đó sử dụng vỏ cây liễu trắng có thể gây ra phản ứng dị ứng


Phẫu thuật: Vỏ cây liễu trắng có thể làm chậm quá trình đông máu. Có một lo ngại nó có thể gây chảy máu nhiều hơn trong và sau khi phẫu thuật. Vì vậy nên ngừng sử dụng các chế phẩm từ vỏ cây liễu ít nhất 2 tuần trước khi phẫu thuật theo lịch trình (mổ phiên).



Tương tác với các thuốc khác:

  • Tương tác chính:

Không được dùng chế phẩm từ vỏ cây liễu trắng với:

Các thuốc làm chậm đông máu (thuốc chống đông máu / thuốc chống tiểu cầu) bởi vì, vỏ cây liễu có thể làm chậm quá trình đông máu. Uống vỏ cây liễu cùng với các loại thuốc làm chậm quá trình đông máu có thể làm tăng khả năng bị bầm tím và chảy máu. ibuprofen (Advil, Motrin, những người khác), naproxen (Anaprox, Naprosyn, những người khác), daltpayin (Fragmin), enoxaparin (Lovenox), heparin, warfarin (Coumadin), và những người khác.

  • Tương tác vừa phải:

Hãy thận trọng với sự kết hợp này:

Aspirin tương tác với vỏ cây liễu trắng có chứa hóa chất tương tự như aspirin. Uống vỏ cây liễu cùng với aspirin có thể làm tăng tác dụng chính và tác dụng phụ của aspirin.

Choline Magiê Trisalicylate (Trilisate) tương tác với vỏ cây liễu vì có chứa các hóa chất tương tự như Choline Magiê Trisalicylate (Trilisate). Do đó dùng vỏ cây liễu cùng với Choline Magiê Trisalicylate (Trilisate) có thể làm tăng tác dụng chính và tác dụng phụ của Choline Magiê Trisalicylate (Trilisate).

Salsalate (Disalcid) được gọi là Salicylate, tương tự như aspirin. Vỏ cây liễu cũng chứa một loại salicylate tương tự như aspirin do đó dùng Salsalate cùng với vỏ cây liễu trắng có thể làm tăng tác dụng chính và tác dụng phụ của salsalate.


Liều dùng:

Về liều dùng đối với đau cột sống: Từ chiết xuất của vỏ cây liễu trắng, 120-240 mg Salicin mỗi ngày. Liều cao hơn 240 mg có hiệu quả điều trị đau cột sống mạnh hơn.


Các nghiên cứu quan trọng khác về chiết xuất vỏ cây liễu trắng


Một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của chế phẩm chiết xuất từ vỏ cây liễu (Salix), được sử dụng rộng rãi ở châu Âu, để điều trị đau thắt lưng trên 210 bệnh nhân những người bị đau lưng mạn tính (trên 3 tháng) với mức đau theo thang điểm >5 bằng trực quan (visual analog scale)


Những bệnh nhân này được chỉ định ngẫu nhiên dùng theo đường uống 120 mg (liều thấp) hoặc 240 mg (liều cao) Salicin, hoặc giả dược, với Tramadol, trong thử nghiệm mù đôi kéo dài 4 tuần. Thước đo kết quả chính là tỷ lệ bệnh nhân không đau mà không dùng Tramadol trong ít nhất 5 ngày trong tuần cuối cùng của nghiên cứu. Các nhóm điều trị và giả dược tương tự nhau ở mức cơ bản trong 114 trên 120 đặc điểm lâm sàng. Tổng cộng có 191 bệnh nhân đã hoàn tất nghiên cứu này. Số bệnh nhân không đau trong tuần điều trị cuối cùng là 27 (39%) trong số tổng 65 bệnh nhân ở nhóm được dùng liều cao, 15 (21%) trong số 67 ở nhóm dùng liều thấp và 4 (6 %) của 59 trong nhóm giả dược (P <0,001). Kết quả giảm đau cột sống ở nhóm dùng liều cao có kết quả giảm đau rõ rệt chỉ sau 1 tuần điều trị. Đáng kể hơn nhiều bệnh nhân trong nhóm giả dược cần dùng thêm Tramadol (P <0,001) trong mỗi tuần của cả quá trình thực hiện nghiên cứu. Một bệnh nhân có phản ứng dị ứng.


Kết luận: Chiết xuất từ vỏ cây liễu trắng là dược liệu hữu ích và an toàn để điều trị các căn bệnh đau lưng có nguyên nhân từ cột sống.


(Dịch từ link: https://www.researchgate.net/publication/12385153_Treatment_of_low_back_pain_exacerbations_with_willow_bark_extract_a_randomized_double-blind_study_1)

Một nghiên cứu giá trị khác của các nhà khoa học Đức là Marcus and Suarez‐Almazor

Đăng tải bởi: Bác sĩ Sigrun Chrubasik, Stefan Pollak, Andrew Black FRCA, Đại hịc Freiburg, Freiburg, Germany, và Đại học Bristol Bristol Royal Infirmary, Bristol, UK.

Phát hiện ra rằng, ngoài thành phần giảm đau chống viêm Sasilin, vỏ cây liễu trắng còn chứa các thành phần khác là Hydroethanolic:


Một bài công bố khoa học gần đây, Marcus và Suarez ‐ Almazor tuyên bố rằng hiệu quả và sự an toàn của các phương pháp điều trị thay thế cho chứng đau cột sống thường không được thiết lập bằng các thử nghiệm có kiểm soát. Tuy nhiên chiết xuất từ vỏ cây liễu trắng là một ngoại lệ đáng chú ý.


Một chuyên khảo của Hiệp hội khoa học châu Âu về Trị liệu học khuyến cáo rằng các chế phẩm chiết xuất từ vở cây liễu trắng (Salix) phù hợp để điều trị triệu chứng như sốt, viêm khớp dạng thấp nhẹ và giảm đau (bao gồm đau đầu). Mặc dù các cơ chế tác dụng của chiết xuất vỏ cây liễu chưa được biết đến đầy đủ, nhưng chắc chắn chúng có phổ chống viêm rộng hơn so với các thuốc chống viêm không steroid và bao gồm ức chế một số chất trung gian gây viêm, bao gồm cả cytokine. Các công dụng chỉ là một phần nhờ do tác dụng của salicylate. Hàm lượng salicin (240 mg) của vỏ cây liễu khuyến cáo hàng ngày tương ứng với ∼90 mg salicylate, bản thân nó không đủ để điều trị đau hiệu quả; do đó, các thành phần khác phải đóng một vai trò quan trọng trong hiệu ứng tổng thể.


Một chiết xuất hydroethanolic của vỏ cây liễu đã chứng minh hoạt động giảm đau, chống viêm và hạ sốt mạnh mẽ trong các thử nghiệm trên động vật được thiết lập. Bốn thử nghiệm có kiểm soát, được công bố trên các tạp chí đánh giá ngang hàng (7-10), đã điều tra tính hiệu quả và an toàn của chiết xuất vỏ cây liễu (Assalix), được chiết xuất từ vở cây liễu trắng này và được nuôi cấy bằng 70% ethanol với tỷ lệ 8% 14 : 1 và chứa tối thiểu 15% salicin. Các nghiên cứu chỉ ra sự cải thiện liên quan đến liều so với giả dược về số lượng bệnh nhân hết đau và các chỉ số được xác nhận (Chỉ số viêm xương khớp của Western Ontario và McMaster, chỉ số đau lưng dưới) ở bệnh nhân bị đau xương khớp hông, đầu gối, và lưng dưới

(Bảng 1). Hiệu quả tương tự như hiệu quả của thuốc ức chế tổng hợp cyclooxygenase ‐ 2 rofecoxib (http://www.ukl.uni‐freiburg.de/rechtmed/salixrofecoxib.html).


Như vậy, cả 4 nghiên cứu tên tổng cộng tương ứng là 520, 109 và 339 bệnh nhân đã dùng chiết xuất vỏ cây liễu, giả dược và điều trị kinh điển. Tỷ lệ mắc các phản ứng dị ứng da tương ứng với 3 phương pháp điều trị trên là 3%, 2% và 1%; những người có rối loạn đường tiêu hóa tương ứng là 3%, 6% và 2%; và những người xuất hiện các tác dụng phụ nhẹ khác tương ứng là 2%, 4% và 4%.


Kết hợp lại với nhau, dữ liệu chỉ ra rằng bệnh nhân đau cột sống chỉ sử dụng chế phẩm từ chiết xuất vỏ cây liễu là một lựa chọn hữu ích và an toàn để điều trị đau xương khớp, và cột sống. Và nó có thể hiệu quả về kinh tế và an toàn hơn so với các phương pháp điều trị thông thường, như dùng thuốc giảm đau chống viêm Rofecoxib.


Link tham khảo: https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1002/art.10625


Cũng qua một nghiên cứu khác:

Điều trị đau thắt lưng bằng thảo dược hoặc bằng các chất tổng hợp chống viêm khớp dạng thấp: một nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (a randomized controlled study): Chiết xuất vỏ cây liễu cho bệnh đau thắt lưng.

Chrubasik S1, Künzel O, Model A, Conradt C, Black A.


Thông tin tác giả:

Trích dẫn nghiên cứu:


MỤC TIÊU: Để so sánh tác dụng Giảm Đau Thắt Lưng của chế phẩm chiết xuất từ vỏ cây liễu (Assalix) với các chất ức chế chọn lọc (rofecoxib) của enzyme cyclo-oxyase-2 (COX-

PHƯƠNG PHÁP: Một nghiên cứu mở, ngẫu nhiên đã được thực hiện tại một phòng khám ngoại trú trên hai nhóm bệnh nhân từ 18 đến 80 tuổi, trong khoảng thời gian 6 tháng với các cơn đau thắt lưng cấp tính. Sử dụng danh sách ngẫu nhiên do máy tính tạo ra, 114 bệnh nhân đã được phân bổ để sử dụng 1 liều chiết xuất thảo dược hàng ngày có chứa 240 mg salicin [PAID (thuốc chống viêm phyto) và 114 được phân bổ để uống 12,5 mg COX-2 tổng hợp chất ức chế rofecoxib [nhóm NSAID (thuốc chống viêm không steroid)]. Các liều đã được lựa chọn theo các khuyến nghị hiện có. Tất cả các bệnh nhân được tự do sử dụng bất kỳ phương pháp điều trị thông thường bổ sung nào được cho là cần thiết. Các kết quả được đo lường dựa vào chỉ số Arhus được sửa đổi, mức độ, tính chất đau của nó và Chỉ số đau toàn diện.


CÁC KẾT QUẢ: Các nhóm được kết hợp tốt. Sau 4 tuần điều trị, chỉ số Arhus đã được cải thiện khoảng 20%, mức độ và đặc tính đau của nó là 30% và Chỉ số đau toàn phần khoảng 35%. Số lượng bệnh nhân không đau (thang điểm tương tự trực quan <2) là khoảng 20 trong mỗi nhóm. Khoảng 60% bệnh nhân trong mỗi nhóm đáp ứng tốt với điều trị (được đánh giá bằng sự cải thiện> / = 30% trong Chỉ số đau toàn bộ so với đường cơ sở). Sự cải thiện đau lưng cũng được phản ánh hợp lý trong các đánh giá của bác sĩ và bệnh nhân về hiệu quả điều trị. Rất ít bệnh nhân trong hai nhóm sử dụng các lựa chọn bổ sung điều trị thông thường. Tỷ lệ các tác dụng phụ là tương tự ở hai nhóm. Điều trị bằng Rofecoxib đắt hơn khoảng 40% so với Assalix.


PHẦN KẾT LUẬN:Không có sự khác biệt đáng kể về hiệu quả giữa hai phương pháp điều trị với liều được chọn. Điều trị bằng chiết xuất từ vỏ cây liễu trắng ít tốn kém hơn so với chế phẩm tổng hợp như Rofecoxib.

Xem link:https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11752510


#spinex

#cao_vỏ_cây_liễu_trắng